Tìm kiếm bài viết trước khi post bài

Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam

 Trả lời bài        Trả lời bài        Trang  <1234 14>
Tác giả
moringaseed Xem từ trên xuống
Member
Member


Gia nhập: 23 May 2012
Địa chỉ: Tp.HCM
Tình trạng: Offline
Bài viết: 115
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn moringaseed Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Chủ đề : Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
    Đã đăng: 10 Jun 2012 lúc 10:57
Từng viết bởi tigonflowers

Bạn moringaseed,
Khi quảng cáo và giới thiệu công dụng, dược tính của một loại thuốc, cây nào đó. Tigon nghĩ bạn phải nên nêu rõ cả mặt tốt và mặt xấu của nó đầy đủ để không gây hại cho người dùng nó.
Như là cây Chùm Ngây này thì đối với phụ nữ có thai thì không được dùng thì sao bạn không ghi ra? rủi bà bầu nào không biết coi quảng cáo của bạn mà người ta ăn vào thì gây ra hậu quả rất lớn đó. Làm cái gì cũng phải có cái tâm và làm cho tới nơi tới chốn, không thì hậu quá khó lường. Đừng chỉ vì lợi ích nào đó mà nêu toàn cái tính tốt ra đây thôi, cho dù là cố tình hay vô ý thì nạn nhân cũng là người thiệt thòi mà người vô tình gây nên hậu quả đó thì có ân hận cũng muộn.
Hay đó là điều mà các nhà quảng cáo không cần biết hay nghĩ tới chăng ?
Rất cám ơn tigonflowers đã góp ý. Đó là thiếu xót của mình. 

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
Quay về đầu
anhpthcm Xem từ trên xuống
Member
Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 08 Feb 2011
Địa chỉ: CMT8,HCM
Tình trạng: Offline
Bài viết: 35
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn anhpthcm Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 10 Jun 2012 lúc 14:23
Mình có cuốn sách " Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Giáo Sư Tiến Sĩ Đỗ Tất Lợi do Nhà xuất bản Y học cho tái bản lần thứ tám năm 2004(có bổ sung, sửa chữa nhiều lần so với bản lần đầu năm 1960).
Đây là một công trình vĩ đại của Giáo Sư Tiến Sĩ Đỗ Tất Lợi  đã được Chủ tịch nước Lê Đức Anh tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Công trình Khoa học và Kỹ thuật và được công nhận là một trong bảy viên ngọc quý của triển lãm Hội chợ sách quốc tế Matxcơva.
Cuốn sách dày tới 1.049 trang, nặng tới 72 Mb nên mình chia thành 2 phần để up. Hy vọng cuốn sách này sẽ thực sự hữu ích cho anh chị em trong và ngoài ngành y, kể cả các chị em nội trợ hay các anh muốn trổ tài " lang băm" cho vợ ngạc nhiên.
Đây là đường link tải:
Phần 1: http://www.mediafire.com/view/?3ln54muwn7jraw2
Phần 2: http://www.mediafire.com/view/?1o1z71z16ah50kr
Trân trọng.

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
"Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi . Mà khó vì lòng người ngại núi e sông"
Quay về đầu
sauvi Xem từ trên xuống
Member
Member


Gia nhập: 09 Sep 2009
Địa chỉ: Đồng Nai
Tình trạng: Offline
Bài viết: 1128
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn sauvi Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 10 Jun 2012 lúc 14:33
Đối với các bà bầu khi ăn rau chùm ngây cũng nên vị thuốc, nhưng mà là ....thuốc phá thai !!!!! SOS !!!!

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
Quay về đầu
sâurau Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Feb 2009
Địa chỉ: qBthanh -TP.HCM
Tình trạng: Offline
Bài viết: 7725
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn sâurau Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 25 Jun 2012 lúc 12:00

Táo

Ăn táo giúp cho lợi và răng khỏe mạnh vì hiệu ứng làm sạch trong trái táo. Ngoài ra, giảm lượng đường tiêu thụ bằng cách ăn táo tốt hơn các món ăn vặt nhiều đường.

Cam

Ai cũng biết rằng kẹo vitamin C làm mất men răng. Vì vậy, thay vì ngậm kẹo vitamin C, chúng ta có thể ăn cam để cung cấp lượng vitamin C cho cơ thể nhưng vẫn trợ giúp hấp thụ sắt và đẩy mạnh sức khỏe răng miệng và lợi.

Sản phẩm làm từ sữa

Phó mát với lượng carbohydrate thấp, giàu canxi và phosphate rất quan trọng cho sức khỏe răng miệng. Các sản phẩm làm từ sữa còn giúp cân bằng độ pH trong miệng, sản xuất nhiều saliva giúp giảm nguy cơ sâu răng và giết chết vi khuẩn gây .

Sữa và sữa chua chứa axit lactic giúp . Các chuyên gia tin rằng protein hiện diện trong sữa chua chống lại các axit có hại, vốn gây ra các lỗ sâu trong lợi.

Cần tây

Cần tây sản xuất nhiều saliva giúp trung hòa vi khuẩn gây ra lỗ sâu răng. Cần tây cũng giúp làm sạch các khe hở giữa các răng.

Ngoài ra, những hạt đậu xanh tươi có thể giúp sạch miệng; axit malic được tìm thấy trong nho giúp giữ răng trắng; nước uống làm sạch các vết ố do nước có màu gây ra.

Ngọc Lam



Đã được chỉnh sửa bởi sâurau - 25 Jun 2012 lúc 12:01

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
Không thịt, chưa chết. Hết rau là tèo! 0908201001.
Nguyễn Quang Thiều, STK 10224116364011 TECHCOMBANK chi nhánh Saigon
Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Sep 2012 lúc 23:53

Vị thuốc từ cây ngũ trảo

DS. Mỹ Nữ   -Thứ Ba, 06/03/2012, 10:5 (GMT+7)

Cây ngũ trảo có tên khoa học là Vitex negundo L., còn gọi là ngũ trãy, mẫu kinh, hoàng kinh, ngũ trảo phong, chân chim…, là loại cây gỗ nhỏ, cao từ 3-5m.

Cành non hình vuông có lông mịn màu xám. Lá mọc đối, 3-5 lá chét, hình trái xoan hoặc mũi mác, mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới có lông mịn màu trắng bạc, hơi khía răng ở phần đầu lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành, có màu tím nhạt hoặc lam tía. Quả hạch hình cầu, có đài tồn tại bao bọc. Mùa ra quả từ tháng 5 đến tháng 7.

Theo Đông y, lá, vỏ cây, rễ, hạt ngũ trảo đều được dùng làm thuốc. Ngũ trảo có vị đắng the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, giảm sốt, làm lưu thông huyết mạch, trừ thấp, kích thích tiêu hóa… Sau đây là công dụng của cây ngũ trảo.

-Trị cảm mạo, sốt, nhức đầu, nghẹt mũi, phong thấp tê bại, gân xương đau nhức, đau thần kinh tọa, phụ nữ đau bụng khi có kinh, hoặc kinh bế đau bụng. Ngày dùng 16 – 40g lá dưới dạng thuốc sắc.

-Trị cảm mạo, sốt, nhức đầu, sổ mũi, chúng ta sử dụng lá ngũ trảo (100g), lá bưởi, lá cam (40 g), lá chanh, lá sả, ngải cứu mỗi thứ 20 g. Rửa sạch nấu trong 5 lít nước để xông

-Kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon, dễ tiêu, trị hen suyễn: Vỏ cây ngũ trảo sắc hoặc ngâm rượu uống mỗi ngày dùng 6 -12g

- Trị đau lưng do gai cột sống: Lá cây đại tướng quân, lá ngũ trảo, bồ công anh. Cả 3 loại đem giả nhỏ thật nhỏ với ít muối, sau đó trộn với ít rượu trắng (khoảng 40 độ) và xào nóng lên rồi đắp vào vùng cột sống bị đau. Khi sử dụng ngũ trảo cần lưu ý: Những người suy nhược, gầy yếu, táo bón không được sử dụng hoặc khi sử dụng phải có sự chỉ định của thầy thuốc.


******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Sep 2012 lúc 23:54

10 bài thuốc hay từ cây ngũ gia bì

Đăng bởi
LINK :
lúc 22/09/2012 trong
LINK :
|
LINK :
| 43 Lượt xem

Ngũ gia bì (Acanthopanax aculeatus) còn gọi là xuyên gia bì, thích gia bì, là cây thân gỗ cao tới 2-3m. Cây có nhiều lá xum xuê, thân màu trắng ngà, vỏ dày. Người ta bóc lấy vỏ cây phơi khô được vị thuốc ngũ gia bì. Theo Đông y, ngũ gia bì có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, tư bổ can thận, bổ tỳ dương, giảm đau nhức, tăng cường sức bền của cơ bắp, tiêu thũng, trục ứ, thông dương khí.

Dưới đây là 10 bài thuốc hay từ ngũ gia bì:

Bài 1: Các khớp sưng đau kéo dài, hạn chế vận động: Ngũ gia bì 16g, trinh nữ 16g, bưởi bung 16g, nam tục đoạn 20g, ngải diệp 16g, cát căn 16g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 2: Viêm tinh hoàn do biến chứng của quai bị: Ngũ gia bì 16g, lệ chi 16g, bạch linh 10g, bạch truật 12g, xa tiền 10g, đinh lăng 16g, quế 6g, trần bì 10g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

LINK :

Cây ngũ gia bì

Bài 3: Nam giới bị yếu sinh lý: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, khởi tử 12g, cẩu tích 12g, tần giao 10g, hạt sen 12g, thỏ ty tử 16g, nhục thung dung 10g, phòng sâm 16g, phá cố chỉ 10g, cam thảo 10g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 4: Tỳ vị hư nhược, chân tay yếu mềm: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, biển đậu 16g, trần bì 10g, sinh khương 6g, táo tàu 5 quả, đinh lăng 16g, quy 16g, cao lương khương 10g, hoài sơn 12g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 5: Chữa phù thận: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, bông mã đề 16g, hương nhu trắng 16g, đinh lăng 20g, quế 10g, bào khương 10g, cẩu tích 12g, ngải diệp 16g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng thuốc 7-8 ngày liền. Công dụng: bổ thổ ôn bổ tỳ thận, tiêu thũng, uống thang này bệnh nhân đi tiểu nhiều, hết phù.

Bài 6: Dày da bụng do thấp tỳ: Ngũ gia bì 16g, ngấy hương 16g, lá đắng 16g, đinh lăng 16g, trần bì 10g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, hoài sơn 16g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Thận dương suy tổn, nhức mỏi xương khớp: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, cẩu tích 12g, khởi tử 12g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, đương quy 16g, xuyên khung 10g, hắc táo nhân 16g, liên nhục 12g, quế tốt 10g, cam thảo 11g, các vị thái nhỏ cho vào bình sành, đổ ngập nước để ngâm. Sau 15 ngày là dùng được, ngày uống 40-50ml, chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: bổ tâm thận, lưu thông khí huyết, tăng cường sinh lực.

Bài 8: Chữa chứng thống phong (các khớp sưng đau đột ngột, đi lại khó khăn, toàn thân mệt mỏi): Ngũ gia bì 16, bồ công anh 16g, trinh nữ 16g, rễ cỏ xước 20g, nam tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, cà gai leo 16g, tất bát 12g, cát căn 16g, đơn hoa 16g, quế 10g, kinh giới 16g, xương bồ 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 9: Đau thần kinh vai cổ do hàn thấp: Ngũ gia bì 16g, rễ cỏ xước 16g, thổ linh 16g, quế 10g, kiện 10g, tế tân 6g, tang ký sinh 16g, cố chỉ 10g, phòng phong 10g, kinh giới 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: trừ phong hàn, thông hoạt kinh lạc, giảm đau.

Bài 10: Sản phụ phù nề sau khi sinh: Ngũ gia bì 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, uất kim 12g, đinh lăng 20g, bạch truật 12g, ích mẫu 16g, quế 10g, đan sâm 16g, xa tiền 10g, trần bì 10g. Đổ nước 1.800ml, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết tiêu ứ, bệnh nhân uống thang này sẽ hết phù.

(Sức khỏe đời sống)


******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 00:01
Ngũ vị tử
Người đưa bài: essen   
31/10/2010
Lịch sử: Ngũ vị tử (Schizandra chinensis) nguồn gốc ở miền đông bắc và trung bắc Trung Quốc. Cây này cũng mọc ở miền bắc Việt Nam như Lào Cai, Lai Châu. Tử là hột và tên Ngũ vị do hột có 5 vị mặn, ngọt, đắng, cay, chua. Vị chính là mặn và chua. Ngũ vị tử có trong nhiều sách thuốc Trung Quốc dùng để chữa ho và những bệnh liên quan đến đường hô hấp, bào chế dưới dạng cồn thuốc.

Thành phần hóa học

Có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của Ngũ vị tử. Trái chứa đường khử và khoảng 10% acid hữu cơ (carboxylic, malic, citric, tartaric). Hột chứa đường khử, alkaloid và ester acid béo. Không có flavon, glycosid hay tanin trong hột hay trái. Khoảng 2% trọng lượng hột gồm lignin với sườn dibenzo-cyclooctan (schizandrin, deoxyschizandrin và những hợp chất liên hệ như schizandrol và schizanderer). Ở một số mẫu, lượng lignin trong trái có thể lên đến 19% trong hột và 10% trong cành. Hơn 30 lignin được nhận diện, gồm gomsisin A, B, C, D, F và G, tigloylglomisin P và angeloylgomisin. Những thành phần khác của cây gồm phytosterol, tinh dầu, sinh tố C và E. Đã có những phương pháp định chuẩn và bào chế dược liệu này.

Dược tính

Bên cạnh tính bồi dưỡng và tái tạo, Ngũ vị tử (Fructus Schisandrae) còn được dùng trong những lĩnh vực khác như bảo vệ

LINK :
, tác dụng lên hệ thần kinh, chữa bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, tính thích ứng (adaptogen)…

Đối với gan:

Thành phần lignin trong Ngũ vị tử có tính bảo vệ gan rõ rệt. Hoạt chất chính như Ngũ vị tử C, schisantherin D, deoxygomisin A, gomisin N và gomisin C. Sự hiện diện của một hay 2 nhóm methylen dioxy có vẻ giữ vai trò quan trọng để bảo vệ gan, hay những phân tử lignan chứa 2 đơn vị phenylpropanoid. Nghiên cứu trên động vật về gomisin A cho bằng cớ thuyết phục tính bảo vệ gan, gồm tính bảo vệ chống viêm gan do halothan, độc tính của carbon tetrachlorur, d-galactosamin và dl-ethionin, suy gan do siêu vi và thương tổn tiền ung thư gan. Cơ chế chống ung thư gan của gomisin A có thể do khả năng giúp chuyển hóa acid mật. Gomisin A tăng sinh tế bào gan, tái tạo gan, tăng lưu thông máu huyết và hồi phục chức năng gan ở chuột lớn. Những hiệu quả này do bảo vệ màng huyết tương tế bào gan. Cao cồn Ngũ vị tử làm tăng trọng lượng gan ở chuột lớn và chuột nhắt. Tác dụng này của schizandrin B. Trong một nghiên cứu ở chuột nhắt, thêm Ngũ vị tử vào thức ăn căn bản hàng ngày trong 14 ngày tăng chuyển hóa enzym mutagen benzo(a)pyren (BaP) và

LINK :
B (AFB) và tăng hoạt động của cytochrome P450. Mặc dầu tăng chuyển hóa, cao Ngũ vị tử tăng đột biến của AFB trong ống nghiệm. Tuy nhiên, hóa chất tạo đột biến tương tự ở sinh vật lại giảm độ bám AFB vào DNA. Người ta nhận thấy schizandrin và khoảng nửa tá hợp chất liên hệ có thể ức chế tạm thời hay làm giảm hoạt động ALT gan. Điều này được quan sát ở thú vật trước đó có dùng hepatotoxin.

Theo nghiên cứu của Hikino, Ngũ vị tử chống lại tính làm hại tế bào của tetrachlorocarbon và galactosamin. Tuy nhiên khi dùng galactosamin làm chất độc hại tế bào, tính bảo vệ gan của Ngũ vị tử giảm ở liều cao. Hikino kết luận lignan của Ngũ vị tử cũng độc hại cho gan khi dùng liều cao trong một khoảng thời gian dài nào đó.

Theo Kee Chang Huang trong “The Pharmacology of Chinese Herbs”, hoạt chất gamma-schizandrin có tính bảo vệ gan và giảm hoạt động của gamma-glutamyltransferase. Tổng hợp protein và lượng cytochrom P450 tăng đáng kể. Ngũ vị tử cũng tăng đáng kể mức glutathione gan và hoạt động của

LINK :
-6-phosphat và glutathione reductase ở gan, cũng như giảm phản ứng của mô gan làm giảm GSH do peroxid.

Đối với hệ thần kinh:

Ngũ vị tử là chất kích thích thần kinh, tăng phản xạ đáp ứng và cải thiện mức tỉnh táo. Tại Trung Quốc, Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh tâm thần như trầm cảm, bứt rứt hay mất trí nhớ. Ngũ vị tử kết hợp với những dược thảo khác cải thiện trí nhớ khi thử nghiệm trên động vật. Từ đó có thể ứng dụng để chữa chứng sa sút trí tuệ ở người. Ngũ vị tử kết hợp với Táo gai (Ziziphus spinosa) và Đương quy (Angelica sinensis) tăng sinh tế bào thần kinh và có thể ngăn ngừa tế bào thần kinh suy thoái. Ngũ vị tử chống tính co giật do cafein và tăng tác dụng của strychnin.

Ngũ vị tử làm sáng mắt, giúp nhìn rõ và tăng giác quan xúc giác.

Ngũ vị tử cũng đã được đánh giá ức chế hệ thần kinh trung ương. Trong y học Trung Quốc, Ngũ vị tử dùng làm thuốc an thần để trị mất ngủ. Cơ chế ức chế có thể liên hệ đến thụ thể dopamin. Gomisin A ức chế tác dụng kích thích thần kinh vận động của methamphetamin trên động vật.

Đối với hệ hô hấp:

Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh đường hô hấp như thở hổn hển, khò khè và ho. Gomisin A được chứng minh có tính giảm ho khi thử trên chuột lang.

Đối với hệ tiêu hóa:

Trong ruột non chuột lớn, cao Ngũ vị tử giảm chuyển hóa BaP (benzoapyrene), điều này trái ngược với tác dụng ở gan. Thí nghiệm cho thấy Ngũ vị tử tăng hoạt động của glutathion s-transferase. Trong ruột non, Ngũ vị tử chuyển hóa BaP về phía diols và 3-hydroxybenzo(a)pyrene tách xa BaP-4,5-epoxid và đột biến quinon của BaP. Ngũ vị tử không tăng hoạt động cytochrom P450 trong ruột non. Ngũ vị tử được dùng để chữa tiêu chảy và kiết lỵ. Một báo cáo cho biết không có tác dụng đáng kể về dịch vị dạ dày, pH dạ dày và lượng acid tiết ra, trong khi nghiên cứu khác cho thấy Ngũ vị tử có tính ức chế co thắt dạ dày và loét dạ dày do stress khi tiêm mạch hay cho chuột lớn uống. Chuyển hóa Ngũ vị tử đã được báo cáo. Cây này cũng giúp cơ thể thích nghi với hoàn cảnh như stress. Ngũ vị tử được dùng để cân bằng mức tân dịch, cải thiện khả năng tình dục, chữa ngứa, kích thích co bóp tử cung. Một báo cáo cho thấy tính kháng khuẩn của cao cồn và aceton của trái Ngũ vị tử.

Phần lớn báo cáo cho biết thuốc Ngũ vị tử tăng tồn trữ glycogen và sử dụng glucose, cũng như mức acid lactic. Một số báo cáo cho thấy Ngũ vị tử không có tác dụng lên glucose trong huyết thanh. Ngũ vị tử tăng hấp thu P32 từ ống tiêu hóa, tăng nồng độ P trong cơ quan và củng cố hoạt động của phosphatase.

Đối với hệ tim mạch:

Cao nước và cao cồn Ngũ vị tử có thể tăng sức co bóp cơ tim nhưng ít có tác dụng lên huyết áp.

Tính đối kháng kích hoạt tiểu cầu của 6,7-dehydroschisandrol A (IC50= 2 x 10-6 M). Hoạt động liên hệ lignan không có ester ở C-6, nhóm hydroxy ở C-7 hay nhóm methylen-dioxy và gốc thay thế R-biphenyl (Lee 1999).

Hư hại cơ tim khi cho tái lưu thông chỗ thiếu máu cục bộ được giảm thiểu bằng cách cho dùng trước schisandrin B (0,6/1,2 mmol/kg/ngày x 3) theo liều lượng và kết hợp với ức chế se-glutathion peroxidase và glutathion reductase (Yim 1999).

Độc tính

Ngũ vị tử có khả năng đàn áp hệ thần kinh trung ương. Vì dược liệu này có tác dụng hoạt động enzym gan và dạ dày, Ngũ vị tử có thể can thiệp vào chuyển hóa các chất thuốc khác khi uống chung. Toàn bộ phổ tác dụng trên gan chưa được nghiên cứu sâu rộng và an toàn chưa được nêu rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu không báo cáo phản ứng phụ.

Tóm lại, Ngũ vị tử là thuốc y học cổ truyền. Thành phần lignin trong cây, chịu trách nhiệm bảo vệ gan chưa được báo cáo rõ. Dược liệu có vẻ sẽ cải thiện tình trạng sa sút trí tuệ, cải thiện tỉnh táo, chữa bệnh đường tiêu hóa và ruột và giúp cơ thể thích nghi với stress. Rất ít thông tin về phản ứng phụ.

DS. LÊ VĂN NHÂN
DS. TRẦN VIỆT HƯNG

(Các loại thực phẩm tốt nhất thế giới)


Đã được chỉnh sửa bởi tigonflowers - 28 Sep 2012 lúc 00:04

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 00:02

Ngũ vị tử - Vị thuốc trị chứng phế hư

Ngũ vị tử còn gọi là huyền cập, ngũ mai tử, sơn hoa tiêu... Tên khoa học là Schisandra chinensis (Turcz) Baill.


Bộ phận dùng làm thuốc là quả, hạt. Thành phần hóa học: trong ngũ vị tử có tinh dầu, các dẫn chất thuộc nhóm lignan, vitamin C và E… Theo Đông y, ngũ vị tử vị chua, tính ôn. Vào kinh phế và thận. Có tác dụng cố biểu, cầm mồ hôi, còn dùng liễm phế, cố tinh, sinh tân dịch. Công năng: an thần, liễm phế, bổ thận, chí hãn sáp tinh chỉ tả sinh tân chỉ khát. Dùng cho các trường hợp: viêm khí phế quản mạn tính gây hen suyễn, sau các bệnh sốt nhiễm khuẩn, mất nước, khát nước, hồi hộp đánh trống ngực, tim đập mạnh loạn nhịp, mất ngủ, ngủ hay mê, quên lẫn giảm trí nhớ. Liều dùng: 4 - 8g.

Ngũ vị tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:


Cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi trộm): bá tử nhân 125g, bán hạ khúc 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, loại bỏ hạt, nghiền nát. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với nước đặc đại táo để làm hoàn to bằng hạt ngô. Có thể làm dưới dạng bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 30 viên.

Chứng phế hư, ho hen suyễn: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g, tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.

Người già phổi yếu, thở suyễn: ngũ vị tử 5g, sa sâm bắc 12g, mạch môn đông 10g, ngưu tất 10g. Sắc uống.

Ích thận, cố tinh: tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, phụ tử 12g. Tất cả làm thành viên hoàn, hoặc sắc uống. Chữa thận dương hư, hoạt tinh.

Chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống.

Di mộng tinh: ngũ vị tử 100g, hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước nửa ngày cho mềm, bóc tách bỏ hạt, đem sao cùng hồ đào, để nguội tán thành bột mịn. Mỗi lần uống 9g với nước sôi hoặc nước hồ nước cơm.

Viêm gan mạn tính: ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối đường.

Đơn thuốc này làm thành viên bằng đậu xanh, uống 30 viên với một chút dấm. Tốt với người thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống.

Một số món ăn - rượu thuốc chữa bệnh có ngũ vị tử:

Rượu ngũ vị tử: ngũ vị tử 40g, rượu 200ml. Ngâm 2 lần, mỗi lần 100ml trong 10 ngày, lọc riêng, sau loại bỏ bã thuốc, trộn hai thứ rượu thuốc với nhau, có thể thêm ít nước cất cho loãng, mỗi lần uống 2,5ml, ngày 3 lần. Dùng cho các bệnh nhân suy nhược thần kinh.

Rượu nhân sâm, ngũ vị, câu kỷ: nhân sâm 10 - 20g, ngũ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g, rượu 500ml. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15 - 20ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ.

Tim lợn hầm ngũ vị tử:
tim lợn 1 cái, ngũ vị tử 9g. Rạch tim lợn, rửa sạch, cho ngũ vị tử vào trong, khâu kín, hấp cách thủy. Dùng cho các bệnh nhân hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, thở gấp, vã mồ hôi, kích ứng, khát nước.

Kiêng kỵ: Những bênh nhân bên ngoài có biểu tà, trong có thực nhiệt không được dùng.

Theo SKDS

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 00:06

Phan tả diệp

\&quot;Phan

Tên khoa học:

Cassia angustifolia Vahl. và Cassia acutifolia Delile, họ Đậu (Fabaceae).

Bộ phận dùng:

Lá (Séné).

Thành phần hoá học chính:

Anthranoid .

Công dụng:

Liều thấp có tác dụng nhuận tràng, liều cao có tác dụng tẩy mạnh.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 1-2g làm thuốc nhuận tràng, 3-5g làm thuốc tẩy. Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc trà hãm.

Chú ý:

Phan tả diệp có trong thành phần của một số trà giảm béo. Dùng thận trọng cho người có thai và cho con bú

******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Tình trạng: Offline
Bài viết: 2934
tùy chọn đăng bài tùy chọn đăng bài   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài       Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 00:10
LINK :

PHAN TẢ DIỆP

( Folium Sennae)

Phan tả diệp là lá phơi hay sấy khô của cây Phan tả diệp lá hẹp Cassia Angustifolia Vahl hay cây Phan tả diệp lá nhọn Cassia Acutifolia đều thuộc họ Vang ( Cassalpiniaceae), được dùng làm thuốc từ thế kỷ 9 tại các nước Ả rập, đến thời kỳ cận đại mới truyền vào Trung quốc, có ghi trong sách Trung quốc Dược học đại tự điển, xuất bản năm 1935 cây Phan tả diệp mọc hoang và được trồng tại các nước nhiệt đới châu Phi, Aán độ ( Tây bắc và nam), vùng Ai cập và dọc lưu vực sông nil, Ở Trung quốc có đem giống về trồng ở đảo Vân nam. Ở nước ta chưa phát hiện cây này nên còn phải nhập của nước ngoài.

Tính vị qui kinh:

Phan tả diệp, vị ngọt đắng, tính hàn, qui kinh Đại tràng.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Aåm phiến tân tham: đắng mát.
  • Sách Dược điển của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (xb 1985): vị ngọt đắng, tính hàn, qui kinh Đại tràng.

Thành phần chủ yếu:

Sennoside A,B và C,D; rhein; chrysophanol, chrysophanic acid, loe-emodin, emodin glucoside.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Phan tả diệp có tác dụng tả hạ thanh nhiệt. Chủ trị các chứng thực tích, tiện bí, làm sạch đường ruột trước phẫu thuật.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Aåm phiến tân tham: "tả nhiệt lợi trường phủ, thông đại tiện".
  • Sách Hiện đại thực dụng Trung dược: " Phan tả diệp dùng ít, vị đắng có tác dụng kiện vị, giúp cho tiêu hóa. Uống liều lượng thích hợp tác dụng xổ nhẹ, muốn xổ mạnh uống 4 - 6g thuốc ngâm kiệt sau mấy giờ có hiệu quả".

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thành phần thuốc xổ là thuốc antraglucoside ( Anthraquinone glycoside) mà chủ yếu là sennoside. Ngoài ra, nước ngâm kiệt của thuốc có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh ngoài da. Dùng liều cao tẩy mạn phân lỏng đau bụng, nếu liều cao nữa, có thể gây đau bụng dữ dội, nôn mửa trong 3 - 4 giờ. Tác dụng kéo dài 1 - 2 ngày, sau đó không bị táo lại.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị tắt ruột: Khoa ngoại Bệnh viện trực thuộc Y học viện Quí dương dùng Phan tả diệp trị 106 ca tắt ruột ( 83 ca đơn thuần, 23 ca nghẽn nhẹ). Cách trị: trước hết truyền dịch rồi dùng ống xông bao tử hạ áp hút dịch vị cùng thức ăn trong bao tử, bơm vào nước thuốc Phan tả diệp. Liều người lớn 15 - 30g, sau khi uống thuốc 2 - 4giờ thụt ruột. Kết quả thành công không cần phẫu thuật, số tắt ruột nghẽn sớm dùng phẫu thuật là chỉ định ( Thông báo Trung tây y kết hợp trị đau bụng cấp 1976,2:38).

2.Trị viêm tụy cấp, viêm túi mật, sỏi túi mật và xuất huyết tiêu hóa: Mỗi lần uống 4 viên nang nhựa ( mỗi viên có 0,25g thuốc sống) ngày uống 3 lần, trong 24 giờ nếu chưa đại tiện cho uống thêm 1 lần. Trị viêm tụy cấp 100 ca trong đó 49 ca có phối hợp viêm túi mật, sỏi mật, giun chui ống mật, kết quả toàn bộ đều khỏi, các tiêu chuẩn kiểm tra được cải thiện rõ tốt hơn nhóm trị bằng thuốc tây. Trị viêm túi mật, sỏi mật tái phát 20 ca, ngoài truyền dịch ra chỉ uống Phan tả diệp đều không khống chế được triệu chứng lâm sàng. Đau bụng giảm đau 4 ± 1,6 ngày. Trị xuất huyết dạ dày tá tràng 346 ca, đều có nôn máu hoặc phân đen. Chỉ dùng Phan tả diệp uống ( tùy tình hình cụ thể truyền dịch hoặc máu), có kết quả 94,2%, số ngày cầm máu trung bình: 2,680 ± 0,12 ngày. ( Kim nghiệp Thành và cộng sự, Tạp chí Trung y 1986, 11:56).

3.Trị táo bón: Mỗi ngày dùng Phan tả diệp khô 3 - 6g, nặng có thể dùng 10g, dùng nước sôi hãm uống. Theo dõi 137 ca kết quả 95,1% đối với các loại táo bón đều có kết quả ( bao gồm người cao tuổi, cao huyết áp, sau sanh, sau phẫu thuật.) ( Nhâm Nghĩa, Tờ Trung dược thông báo 1987,7:51).

  • Phan tả diệp 6g, Chỉ thực 6g, Hậu phác 9g, sắc uống. Trị táo bón do nhiệt tích.
  • Phan tả diệp 4 - 6g, Đại hoàng 9g, Trần bì 4g, Hoàng liên 3g, Đinh hương, Sinh khương đều 3g, sắc uống. Trị táo do thực tích.

4.Giúp chức năng ruột hồi phục nhanh sau phẫu thuật: dùng Phan tả diệp 4g, hãm nước sôi uống. Theo dõi 276 ca kết quả tốt. Thường uống 1 liều trong vòng 24 giờ trung tiện và tiểu được, đạt 95,6% ( Vương thời Vận, Báo Thầy thuốc nông thôn Trung quốc 1988,1:36).

5.Trị rối loạn tiêu hóa bụng đầy: Phan tả diệp 2g, Binh lang, Đại hoàng đều 3g, Sơn tra 10g, sắc uống.

6.Dùng thay thụt ruột trước khi mổ vùng hậu môn: chiều hôm trước phẫu thuật nhịn ăn, 3 giờ chiều hãm nước sôi Phan tả diệp 10g uống, kết quả đạt 98% ( Thôi ngọc Trân, Học báo Trung y học viện Liêu ninh 1984, tr 71).

Liều lượng thường dùng:

  • Dùng Nhuận tràng: 1,5 - 3g, tẩy xổ 5 -10g hãm nước sôi uống, thuốc thang cho vào sau.
  • Chú ý: người cơ thể yếu, phụ nữ có thai, thờ kỳ kinh nguyệt, đang cho con bú, dùng thận trọng. Dùng quá liều có thể gây đau bụng, buồn nôn, nôn.


(st internet)


******* Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *******
Copy đường link dưới đây, để gửi đến cho bạn bè xem bài viết này !
http://www.facebook.com/tigonflowers
Mua + Bán gây quỹ từ thiện
"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."

Quay về đầu
 Trả lời bài        Trả lời bài        Trang  <1234 14>


Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống



Trang này được hoàn thành trong 0.281 Giây.

Copyright@ 2007 - 2013 by Nông Phẩm Xanh
Tel: 08. 350 30 343 | Fax: 08. 3826 3247 | Email: nongphamxanh@rausach.com.vn
Địa chỉ: 254/53 Bến Vân Đồn, Phường 5, Quận 4, TP.Hồ Chí Minh