[Diễn đàn] [Diễn đàn] > Rau Và Sức Khỏe Cộng Đồng > Món Ăn - Bài Thuốc
Điều lệ sinh hoạt   Có bài mới Có bài mới Kênh RSS - Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
  Tìm kiếm trong diễn đàn   Events   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập


Khai trương Shop Thực Phẩm An Toàn - SHOP.RAUSACH.COM.VN
VĂN HÓA - QUY TẮC ỨNG XỬ VÀ NỘI QUY DIỄN ĐÀN RAU SẠCH (Áp dụng từ ngày 24.12.2014)
TỔNG KẾT NĂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NĂM 2015

Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam

 Trả lời bài  Trả lời bài  Trang  <1234 14>
Tác giả
Nội dung
  Chủ đề  Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Tùy chọn chủ đề Tùy chọn chủ đề
sâurau Xem từ trên xuống
Moderator
Moderator
Ảnh đại diện

Gia nhập: 21 Feb 2009
Địa chỉ: qBthanh -TP.HCM
Status: Offline
Points: 39
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn sâurau Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 25 Jun 2012 lúc 12:00pm

Táo

Ăn táo giúp cho lợi và răng khỏe mạnh vì hiệu ứng làm sạch trong trái táo. Ngoài ra, giảm lượng đường tiêu thụ bằng cách ăn táo tốt hơn các món ăn vặt nhiều đường.

Cam

Ai cũng biết rằng kẹo vitamin C làm mất men răng. Vì vậy, thay vì ngậm kẹo vitamin C, chúng ta có thể ăn cam để cung cấp lượng vitamin C cho cơ thể nhưng vẫn trợ giúp hấp thụ sắt và đẩy mạnh sức khỏe răng miệng và lợi.

Sản phẩm làm từ sữa

Phó mát với lượng carbohydrate thấp, giàu canxi và phosphate rất quan trọng cho sức khỏe răng miệng. Các sản phẩm làm từ sữa còn giúp cân bằng độ pH trong miệng, sản xuất nhiều saliva giúp giảm nguy cơ sâu răng và giết chết vi khuẩn gây .

Sữa và sữa chua chứa axit lactic giúp . Các chuyên gia tin rằng protein hiện diện trong sữa chua chống lại các axit có hại, vốn gây ra các lỗ sâu trong lợi.

Cần tây

Cần tây sản xuất nhiều saliva giúp trung hòa vi khuẩn gây ra lỗ sâu răng. Cần tây cũng giúp làm sạch các khe hở giữa các răng.

Ngoài ra, những hạt đậu xanh tươi có thể giúp sạch miệng; axit malic được tìm thấy trong nho giúp giữ răng trắng; nước uống làm sạch các vết ố do nước có màu gây ra.

Ngọc Lam



Đã được chỉnh sửa bởi sâurau - 25 Jun 2012 lúc 12:01pm
Không thịt, chưa chết. Hết rau là tèo!
Nguyễn Quang Thiều, STK 10224116364011 TECHCOMBANK chi nhánh Saigon
0908201001
Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Sep 2012 lúc 11:53pm

Vị thuốc từ cây ngũ trảo

DS. Mỹ Nữ   -Thứ Ba, 06/03/2012, 10:5 (GMT+7)

Cây ngũ trảo có tên khoa học là Vitex negundo L., còn gọi là ngũ trãy, mẫu kinh, hoàng kinh, ngũ trảo phong, chân chim…, là loại cây gỗ nhỏ, cao từ 3-5m.

Cành non hình vuông có lông mịn màu xám. Lá mọc đối, 3-5 lá chét, hình trái xoan hoặc mũi mác, mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới có lông mịn màu trắng bạc, hơi khía răng ở phần đầu lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành, có màu tím nhạt hoặc lam tía. Quả hạch hình cầu, có đài tồn tại bao bọc. Mùa ra quả từ tháng 5 đến tháng 7.

Theo Đông y, lá, vỏ cây, rễ, hạt ngũ trảo đều được dùng làm thuốc. Ngũ trảo có vị đắng the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, giảm sốt, làm lưu thông huyết mạch, trừ thấp, kích thích tiêu hóa… Sau đây là công dụng của cây ngũ trảo.

-Trị cảm mạo, sốt, nhức đầu, nghẹt mũi, phong thấp tê bại, gân xương đau nhức, đau thần kinh tọa, phụ nữ đau bụng khi có kinh, hoặc kinh bế đau bụng. Ngày dùng 16 – 40g lá dưới dạng thuốc sắc.

-Trị cảm mạo, sốt, nhức đầu, sổ mũi, chúng ta sử dụng lá ngũ trảo (100g), lá bưởi, lá cam (40 g), lá chanh, lá sả, ngải cứu mỗi thứ 20 g. Rửa sạch nấu trong 5 lít nước để xông

-Kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon, dễ tiêu, trị hen suyễn: Vỏ cây ngũ trảo sắc hoặc ngâm rượu uống mỗi ngày dùng 6 -12g

- Trị đau lưng do gai cột sống: Lá cây đại tướng quân, lá ngũ trảo, bồ công anh. Cả 3 loại đem giả nhỏ thật nhỏ với ít muối, sau đó trộn với ít rượu trắng (khoảng 40 độ) và xào nóng lên rồi đắp vào vùng cột sống bị đau. Khi sử dụng ngũ trảo cần lưu ý: Những người suy nhược, gầy yếu, táo bón không được sử dụng hoặc khi sử dụng phải có sự chỉ định của thầy thuốc.



Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 27 Sep 2012 lúc 11:54pm

10 bài thuốc hay từ cây ngũ gia bì

Đăng bởi thuyvnp lúc 22/09/2012 trong Y học dân tộc | 0 Bình luận | 43 Lượt xem

Ngũ gia bì (Acanthopanax aculeatus) còn gọi là xuyên gia bì, thích gia bì, là cây thân gỗ cao tới 2-3m. Cây có nhiều lá xum xuê, thân màu trắng ngà, vỏ dày. Người ta bóc lấy vỏ cây phơi khô được vị thuốc ngũ gia bì. Theo Đông y, ngũ gia bì có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, tư bổ can thận, bổ tỳ dương, giảm đau nhức, tăng cường sức bền của cơ bắp, tiêu thũng, trục ứ, thông dương khí.

Dưới đây là 10 bài thuốc hay từ ngũ gia bì:

Bài 1: Các khớp sưng đau kéo dài, hạn chế vận động: Ngũ gia bì 16g, trinh nữ 16g, bưởi bung 16g, nam tục đoạn 20g, ngải diệp 16g, cát căn 16g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 2: Viêm tinh hoàn do biến chứng của quai bị: Ngũ gia bì 16g, lệ chi 16g, bạch linh 10g, bạch truật 12g, xa tiền 10g, đinh lăng 16g, quế 6g, trần bì 10g, đổ nước 4 bát. Sắc còn 2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

cay ngu gia bi 10 bài thuốc hay từ cây ngũ gia bì

Cây ngũ gia bì

Bài 3: Nam giới bị yếu sinh lý: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, khởi tử 12g, cẩu tích 12g, tần giao 10g, hạt sen 12g, thỏ ty tử 16g, nhục thung dung 10g, phòng sâm 16g, phá cố chỉ 10g, cam thảo 10g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 4: Tỳ vị hư nhược, chân tay yếu mềm: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, biển đậu 16g, trần bì 10g, sinh khương 6g, táo tàu 5 quả, đinh lăng 16g, quy 16g, cao lương khương 10g, hoài sơn 12g, đổ nước 1.800ml. Sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài 5: Chữa phù thận: Ngũ gia bì 16g, bạch truật 16g, bông mã đề 16g, hương nhu trắng 16g, đinh lăng 20g, quế 10g, bào khương 10g, cẩu tích 12g, ngải diệp 16g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng thuốc 7-8 ngày liền. Công dụng: bổ thổ ôn bổ tỳ thận, tiêu thũng, uống thang này bệnh nhân đi tiểu nhiều, hết phù.

Bài 6: Dày da bụng do thấp tỳ: Ngũ gia bì 16g, ngấy hương 16g, lá đắng 16g, đinh lăng 16g, trần bì 10g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, hoài sơn 16g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Thận dương suy tổn, nhức mỏi xương khớp: Ngũ gia bì 16g, thục địa 12g, cẩu tích 12g, khởi tử 12g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, đương quy 16g, xuyên khung 10g, hắc táo nhân 16g, liên nhục 12g, quế tốt 10g, cam thảo 11g, các vị thái nhỏ cho vào bình sành, đổ ngập nước để ngâm. Sau 15 ngày là dùng được, ngày uống 40-50ml, chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: bổ tâm thận, lưu thông khí huyết, tăng cường sinh lực.

Bài 8: Chữa chứng thống phong (các khớp sưng đau đột ngột, đi lại khó khăn, toàn thân mệt mỏi): Ngũ gia bì 16, bồ công anh 16g, trinh nữ 16g, rễ cỏ xước 20g, nam tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, cà gai leo 16g, tất bát 12g, cát căn 16g, đơn hoa 16g, quế 10g, kinh giới 16g, xương bồ 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 9: Đau thần kinh vai cổ do hàn thấp: Ngũ gia bì 16g, rễ cỏ xước 16g, thổ linh 16g, quế 10g, kiện 10g, tế tân 6g, tang ký sinh 16g, cố chỉ 10g, phòng phong 10g, kinh giới 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: trừ phong hàn, thông hoạt kinh lạc, giảm đau.

Bài 10: Sản phụ phù nề sau khi sinh: Ngũ gia bì 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, uất kim 12g, đinh lăng 20g, bạch truật 12g, ích mẫu 16g, quế 10g, đan sâm 16g, xa tiền 10g, trần bì 10g. Đổ nước 1.800ml, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia 2 lần uống trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết tiêu ứ, bệnh nhân uống thang này sẽ hết phù.

(Sức khỏe đời sống)



Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:01am
Ngũ vị tử
Người đưa bài: essen   
31/10/2010
Lịch sử: Ngũ vị tử (Schizandra chinensis) nguồn gốc ở miền đông bắc và trung bắc Trung Quốc. Cây này cũng mọc ở miền bắc Việt Nam như Lào Cai, Lai Châu. Tử là hột và tên Ngũ vị do hột có 5 vị mặn, ngọt, đắng, cay, chua. Vị chính là mặn và chua. Ngũ vị tử có trong nhiều sách thuốc Trung Quốc dùng để chữa ho và những bệnh liên quan đến đường hô hấp, bào chế dưới dạng cồn thuốc.

Thành phần hóa học

Có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của Ngũ vị tử. Trái chứa đường khử và khoảng 10% acid hữu cơ (carboxylic, malic, citric, tartaric). Hột chứa đường khử, alkaloid và ester acid béo. Không có flavon, glycosid hay tanin trong hột hay trái. Khoảng 2% trọng lượng hột gồm lignin với sườn dibenzo-cyclooctan (schizandrin, deoxyschizandrin và những hợp chất liên hệ như schizandrol và schizanderer). Ở một số mẫu, lượng lignin trong trái có thể lên đến 19% trong hột và 10% trong cành. Hơn 30 lignin được nhận diện, gồm gomsisin A, B, C, D, F và G, tigloylglomisin P và angeloylgomisin. Những thành phần khác của cây gồm phytosterol, tinh dầu, sinh tố C và E. Đã có những phương pháp định chuẩn và bào chế dược liệu này.

Dược tính

Bên cạnh tính bồi dưỡng và tái tạo, Ngũ vị tử (Fructus Schisandrae) còn được dùng trong những lĩnh vực khác như bảo vệ Gan, tác dụng lên hệ thần kinh, chữa bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, tính thích ứng (adaptogen)…

Đối với gan:

Thành phần lignin trong Ngũ vị tử có tính bảo vệ gan rõ rệt. Hoạt chất chính như Ngũ vị tử C, schisantherin D, deoxygomisin A, gomisin N và gomisin C. Sự hiện diện của một hay 2 nhóm methylen dioxy có vẻ giữ vai trò quan trọng để bảo vệ gan, hay những phân tử lignan chứa 2 đơn vị phenylpropanoid. Nghiên cứu trên động vật về gomisin A cho bằng cớ thuyết phục tính bảo vệ gan, gồm tính bảo vệ chống viêm gan do halothan, độc tính của carbon tetrachlorur, d-galactosamin và dl-ethionin, suy gan do siêu vi và thương tổn tiền ung thư gan. Cơ chế chống ung thư gan của gomisin A có thể do khả năng giúp chuyển hóa acid mật. Gomisin A tăng sinh tế bào gan, tái tạo gan, tăng lưu thông máu huyết và hồi phục chức năng gan ở chuột lớn. Những hiệu quả này do bảo vệ màng huyết tương tế bào gan. Cao cồn Ngũ vị tử làm tăng trọng lượng gan ở chuột lớn và chuột nhắt. Tác dụng này của schizandrin B. Trong một nghiên cứu ở chuột nhắt, thêm Ngũ vị tử vào thức ăn căn bản hàng ngày trong 14 ngày tăng chuyển hóa enzym mutagen benzo(a)pyren (BaP) và aflatoxin B (AFB) và tăng hoạt động của cytochrome P450. Mặc dầu tăng chuyển hóa, cao Ngũ vị tử tăng đột biến của AFB trong ống nghiệm. Tuy nhiên, hóa chất tạo đột biến tương tự ở sinh vật lại giảm độ bám AFB vào DNA. Người ta nhận thấy schizandrin và khoảng nửa tá hợp chất liên hệ có thể ức chế tạm thời hay làm giảm hoạt động ALT gan. Điều này được quan sát ở thú vật trước đó có dùng hepatotoxin.

Theo nghiên cứu của Hikino, Ngũ vị tử chống lại tính làm hại tế bào của tetrachlorocarbon và galactosamin. Tuy nhiên khi dùng galactosamin làm chất độc hại tế bào, tính bảo vệ gan của Ngũ vị tử giảm ở liều cao. Hikino kết luận lignan của Ngũ vị tử cũng độc hại cho gan khi dùng liều cao trong một khoảng thời gian dài nào đó.

Theo Kee Chang Huang trong “The Pharmacology of Chinese Herbs”, hoạt chất gamma-schizandrin có tính bảo vệ gan và giảm hoạt động của gamma-glutamyltransferase. Tổng hợp protein và lượng cytochrom P450 tăng đáng kể. Ngũ vị tử cũng tăng đáng kể mức glutathione gan và hoạt động của Glucose-6-phosphat và glutathione reductase ở gan, cũng như giảm phản ứng của mô gan làm giảm GSH do peroxid.

Đối với hệ thần kinh:

Ngũ vị tử là chất kích thích thần kinh, tăng phản xạ đáp ứng và cải thiện mức tỉnh táo. Tại Trung Quốc, Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh tâm thần như trầm cảm, bứt rứt hay mất trí nhớ. Ngũ vị tử kết hợp với những dược thảo khác cải thiện trí nhớ khi thử nghiệm trên động vật. Từ đó có thể ứng dụng để chữa chứng sa sút trí tuệ ở người. Ngũ vị tử kết hợp với Táo gai (Ziziphus spinosa) và Đương quy (Angelica sinensis) tăng sinh tế bào thần kinh và có thể ngăn ngừa tế bào thần kinh suy thoái. Ngũ vị tử chống tính co giật do cafein và tăng tác dụng của strychnin.

Ngũ vị tử làm sáng mắt, giúp nhìn rõ và tăng giác quan xúc giác.

Ngũ vị tử cũng đã được đánh giá ức chế hệ thần kinh trung ương. Trong y học Trung Quốc, Ngũ vị tử dùng làm thuốc an thần để trị mất ngủ. Cơ chế ức chế có thể liên hệ đến thụ thể dopamin. Gomisin A ức chế tác dụng kích thích thần kinh vận động của methamphetamin trên động vật.

Đối với hệ hô hấp:

Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh đường hô hấp như thở hổn hển, khò khè và ho. Gomisin A được chứng minh có tính giảm ho khi thử trên chuột lang.

Đối với hệ tiêu hóa:

Trong ruột non chuột lớn, cao Ngũ vị tử giảm chuyển hóa BaP (benzoapyrene), điều này trái ngược với tác dụng ở gan. Thí nghiệm cho thấy Ngũ vị tử tăng hoạt động của glutathion s-transferase. Trong ruột non, Ngũ vị tử chuyển hóa BaP về phía diols và 3-hydroxybenzo(a)pyrene tách xa BaP-4,5-epoxid và đột biến quinon của BaP. Ngũ vị tử không tăng hoạt động cytochrom P450 trong ruột non. Ngũ vị tử được dùng để chữa tiêu chảy và kiết lỵ. Một báo cáo cho biết không có tác dụng đáng kể về dịch vị dạ dày, pH dạ dày và lượng acid tiết ra, trong khi nghiên cứu khác cho thấy Ngũ vị tử có tính ức chế co thắt dạ dày và loét dạ dày do stress khi tiêm mạch hay cho chuột lớn uống. Chuyển hóa Ngũ vị tử đã được báo cáo. Cây này cũng giúp cơ thể thích nghi với hoàn cảnh như stress. Ngũ vị tử được dùng để cân bằng mức tân dịch, cải thiện khả năng tình dục, chữa ngứa, kích thích co bóp tử cung. Một báo cáo cho thấy tính kháng khuẩn của cao cồn và aceton của trái Ngũ vị tử.

Phần lớn báo cáo cho biết thuốc Ngũ vị tử tăng tồn trữ glycogen và sử dụng glucose, cũng như mức acid lactic. Một số báo cáo cho thấy Ngũ vị tử không có tác dụng lên glucose trong huyết thanh. Ngũ vị tử tăng hấp thu P32 từ ống tiêu hóa, tăng nồng độ P trong cơ quan và củng cố hoạt động của phosphatase.

Đối với hệ tim mạch:

Cao nước và cao cồn Ngũ vị tử có thể tăng sức co bóp cơ tim nhưng ít có tác dụng lên huyết áp.

Tính đối kháng kích hoạt tiểu cầu của 6,7-dehydroschisandrol A (IC50= 2 x 10-6 M). Hoạt động liên hệ lignan không có ester ở C-6, nhóm hydroxy ở C-7 hay nhóm methylen-dioxy và gốc thay thế R-biphenyl (Lee 1999).

Hư hại cơ tim khi cho tái lưu thông chỗ thiếu máu cục bộ được giảm thiểu bằng cách cho dùng trước schisandrin B (0,6/1,2 mmol/kg/ngày x 3) theo liều lượng và kết hợp với ức chế se-glutathion peroxidase và glutathion reductase (Yim 1999).

Độc tính

Ngũ vị tử có khả năng đàn áp hệ thần kinh trung ương. Vì dược liệu này có tác dụng hoạt động enzym gan và dạ dày, Ngũ vị tử có thể can thiệp vào chuyển hóa các chất thuốc khác khi uống chung. Toàn bộ phổ tác dụng trên gan chưa được nghiên cứu sâu rộng và an toàn chưa được nêu rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu không báo cáo phản ứng phụ.

Tóm lại, Ngũ vị tử là thuốc y học cổ truyền. Thành phần lignin trong cây, chịu trách nhiệm bảo vệ gan chưa được báo cáo rõ. Dược liệu có vẻ sẽ cải thiện tình trạng sa sút trí tuệ, cải thiện tỉnh táo, chữa bệnh đường tiêu hóa và ruột và giúp cơ thể thích nghi với stress. Rất ít thông tin về phản ứng phụ.

DS. LÊ VĂN NHÂN
DS. TRẦN VIỆT HƯNG

(Các loại thực phẩm tốt nhất thế giới)


Đã được chỉnh sửa bởi tigonflowers - 28 Sep 2012 lúc 12:04am


Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:02am

Ngũ vị tử - Vị thuốc trị chứng phế hư

Ngũ vị tử còn gọi là huyền cập, ngũ mai tử, sơn hoa tiêu... Tên khoa học là Schisandra chinensis (Turcz) Baill.


Bộ phận dùng làm thuốc là quả, hạt. Thành phần hóa học: trong ngũ vị tử có tinh dầu, các dẫn chất thuộc nhóm lignan, vitamin C và E… Theo Đông y, ngũ vị tử vị chua, tính ôn. Vào kinh phế và thận. Có tác dụng cố biểu, cầm mồ hôi, còn dùng liễm phế, cố tinh, sinh tân dịch. Công năng: an thần, liễm phế, bổ thận, chí hãn sáp tinh chỉ tả sinh tân chỉ khát. Dùng cho các trường hợp: viêm khí phế quản mạn tính gây hen suyễn, sau các bệnh sốt nhiễm khuẩn, mất nước, khát nước, hồi hộp đánh trống ngực, tim đập mạnh loạn nhịp, mất ngủ, ngủ hay mê, quên lẫn giảm trí nhớ. Liều dùng: 4 - 8g.

Ngũ vị tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:


Cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi trộm): bá tử nhân 125g, bán hạ khúc 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, loại bỏ hạt, nghiền nát. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với nước đặc đại táo để làm hoàn to bằng hạt ngô. Có thể làm dưới dạng bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 30 viên.

Chứng phế hư, ho hen suyễn: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g, tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.

Người già phổi yếu, thở suyễn: ngũ vị tử 5g, sa sâm bắc 12g, mạch môn đông 10g, ngưu tất 10g. Sắc uống.

Ích thận, cố tinh: tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, phụ tử 12g. Tất cả làm thành viên hoàn, hoặc sắc uống. Chữa thận dương hư, hoạt tinh.

Chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống.

Di mộng tinh: ngũ vị tử 100g, hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước nửa ngày cho mềm, bóc tách bỏ hạt, đem sao cùng hồ đào, để nguội tán thành bột mịn. Mỗi lần uống 9g với nước sôi hoặc nước hồ nước cơm.

Viêm gan mạn tính: ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối đường.

Đơn thuốc này làm thành viên bằng đậu xanh, uống 30 viên với một chút dấm. Tốt với người thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống.

Một số món ăn - rượu thuốc chữa bệnh có ngũ vị tử:

Rượu ngũ vị tử: ngũ vị tử 40g, rượu 200ml. Ngâm 2 lần, mỗi lần 100ml trong 10 ngày, lọc riêng, sau loại bỏ bã thuốc, trộn hai thứ rượu thuốc với nhau, có thể thêm ít nước cất cho loãng, mỗi lần uống 2,5ml, ngày 3 lần. Dùng cho các bệnh nhân suy nhược thần kinh.

Rượu nhân sâm, ngũ vị, câu kỷ: nhân sâm 10 - 20g, ngũ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g, rượu 500ml. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15 - 20ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ.

Tim lợn hầm ngũ vị tử:
tim lợn 1 cái, ngũ vị tử 9g. Rạch tim lợn, rửa sạch, cho ngũ vị tử vào trong, khâu kín, hấp cách thủy. Dùng cho các bệnh nhân hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, thở gấp, vã mồ hôi, kích ứng, khát nước.

Kiêng kỵ: Những bênh nhân bên ngoài có biểu tà, trong có thực nhiệt không được dùng.

Theo SKDS


Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:06am

Phan tả diệp

\&quot;Phan

Tên khoa học:

Cassia angustifolia Vahl. và Cassia acutifolia Delile, họ Đậu (Fabaceae).

Bộ phận dùng:

Lá (Séné).

Thành phần hoá học chính:

Anthranoid .

Công dụng:

Liều thấp có tác dụng nhuận tràng, liều cao có tác dụng tẩy mạnh.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 1-2g làm thuốc nhuận tràng, 3-5g làm thuốc tẩy. Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc trà hãm.

Chú ý:

Phan tả diệp có trong thành phần của một số trà giảm béo. Dùng thận trọng cho người có thai và cho con bú


Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:10am

PHAN TẢ DIỆP

( Folium Sennae)

Phan tả diệp là lá phơi hay sấy khô của cây Phan tả diệp lá hẹp Cassia Angustifolia Vahl hay cây Phan tả diệp lá nhọn Cassia Acutifolia đều thuộc họ Vang ( Cassalpiniaceae), được dùng làm thuốc từ thế kỷ 9 tại các nước Ả rập, đến thời kỳ cận đại mới truyền vào Trung quốc, có ghi trong sách Trung quốc Dược học đại tự điển, xuất bản năm 1935 cây Phan tả diệp mọc hoang và được trồng tại các nước nhiệt đới châu Phi, Aán độ ( Tây bắc và nam), vùng Ai cập và dọc lưu vực sông nil, Ở Trung quốc có đem giống về trồng ở đảo Vân nam. Ở nước ta chưa phát hiện cây này nên còn phải nhập của nước ngoài.

Tính vị qui kinh:

Phan tả diệp, vị ngọt đắng, tính hàn, qui kinh Đại tràng.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Aåm phiến tân tham: đắng mát.
  • Sách Dược điển của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (xb 1985): vị ngọt đắng, tính hàn, qui kinh Đại tràng.

Thành phần chủ yếu:

Sennoside A,B và C,D; rhein; chrysophanol, chrysophanic acid, loe-emodin, emodin glucoside.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Phan tả diệp có tác dụng tả hạ thanh nhiệt. Chủ trị các chứng thực tích, tiện bí, làm sạch đường ruột trước phẫu thuật.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Aåm phiến tân tham: "tả nhiệt lợi trường phủ, thông đại tiện".
  • Sách Hiện đại thực dụng Trung dược: " Phan tả diệp dùng ít, vị đắng có tác dụng kiện vị, giúp cho tiêu hóa. Uống liều lượng thích hợp tác dụng xổ nhẹ, muốn xổ mạnh uống 4 - 6g thuốc ngâm kiệt sau mấy giờ có hiệu quả".

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thành phần thuốc xổ là thuốc antraglucoside ( Anthraquinone glycoside) mà chủ yếu là sennoside. Ngoài ra, nước ngâm kiệt của thuốc có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh ngoài da. Dùng liều cao tẩy mạn phân lỏng đau bụng, nếu liều cao nữa, có thể gây đau bụng dữ dội, nôn mửa trong 3 - 4 giờ. Tác dụng kéo dài 1 - 2 ngày, sau đó không bị táo lại.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị tắt ruột: Khoa ngoại Bệnh viện trực thuộc Y học viện Quí dương dùng Phan tả diệp trị 106 ca tắt ruột ( 83 ca đơn thuần, 23 ca nghẽn nhẹ). Cách trị: trước hết truyền dịch rồi dùng ống xông bao tử hạ áp hút dịch vị cùng thức ăn trong bao tử, bơm vào nước thuốc Phan tả diệp. Liều người lớn 15 - 30g, sau khi uống thuốc 2 - 4giờ thụt ruột. Kết quả thành công không cần phẫu thuật, số tắt ruột nghẽn sớm dùng phẫu thuật là chỉ định ( Thông báo Trung tây y kết hợp trị đau bụng cấp 1976,2:38).

2.Trị viêm tụy cấp, viêm túi mật, sỏi túi mật và xuất huyết tiêu hóa: Mỗi lần uống 4 viên nang nhựa ( mỗi viên có 0,25g thuốc sống) ngày uống 3 lần, trong 24 giờ nếu chưa đại tiện cho uống thêm 1 lần. Trị viêm tụy cấp 100 ca trong đó 49 ca có phối hợp viêm túi mật, sỏi mật, giun chui ống mật, kết quả toàn bộ đều khỏi, các tiêu chuẩn kiểm tra được cải thiện rõ tốt hơn nhóm trị bằng thuốc tây. Trị viêm túi mật, sỏi mật tái phát 20 ca, ngoài truyền dịch ra chỉ uống Phan tả diệp đều không khống chế được triệu chứng lâm sàng. Đau bụng giảm đau 4 ± 1,6 ngày. Trị xuất huyết dạ dày tá tràng 346 ca, đều có nôn máu hoặc phân đen. Chỉ dùng Phan tả diệp uống ( tùy tình hình cụ thể truyền dịch hoặc máu), có kết quả 94,2%, số ngày cầm máu trung bình: 2,680 ± 0,12 ngày. ( Kim nghiệp Thành và cộng sự, Tạp chí Trung y 1986, 11:56).

3.Trị táo bón: Mỗi ngày dùng Phan tả diệp khô 3 - 6g, nặng có thể dùng 10g, dùng nước sôi hãm uống. Theo dõi 137 ca kết quả 95,1% đối với các loại táo bón đều có kết quả ( bao gồm người cao tuổi, cao huyết áp, sau sanh, sau phẫu thuật.) ( Nhâm Nghĩa, Tờ Trung dược thông báo 1987,7:51).

  • Phan tả diệp 6g, Chỉ thực 6g, Hậu phác 9g, sắc uống. Trị táo bón do nhiệt tích.
  • Phan tả diệp 4 - 6g, Đại hoàng 9g, Trần bì 4g, Hoàng liên 3g, Đinh hương, Sinh khương đều 3g, sắc uống. Trị táo do thực tích.

4.Giúp chức năng ruột hồi phục nhanh sau phẫu thuật: dùng Phan tả diệp 4g, hãm nước sôi uống. Theo dõi 276 ca kết quả tốt. Thường uống 1 liều trong vòng 24 giờ trung tiện và tiểu được, đạt 95,6% ( Vương thời Vận, Báo Thầy thuốc nông thôn Trung quốc 1988,1:36).

5.Trị rối loạn tiêu hóa bụng đầy: Phan tả diệp 2g, Binh lang, Đại hoàng đều 3g, Sơn tra 10g, sắc uống.

6.Dùng thay thụt ruột trước khi mổ vùng hậu môn: chiều hôm trước phẫu thuật nhịn ăn, 3 giờ chiều hãm nước sôi Phan tả diệp 10g uống, kết quả đạt 98% ( Thôi ngọc Trân, Học báo Trung y học viện Liêu ninh 1984, tr 71).

Liều lượng thường dùng:

  • Dùng Nhuận tràng: 1,5 - 3g, tẩy xổ 5 -10g hãm nước sôi uống, thuốc thang cho vào sau.
  • Chú ý: người cơ thể yếu, phụ nữ có thai, thờ kỳ kinh nguyệt, đang cho con bú, dùng thận trọng. Dùng quá liều có thể gây đau bụng, buồn nôn, nôn.


(st internet)



Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:19am

Cây trường sinh trị tiêu thủng giảm đau

Tên khác: Cây sống đời, Diệp sinh căn, Thuốc bỏng, trường sinh, đả bất tử, tầu púa sung (Dao).

Tên khoa học: Kalanchoe mortagei, Kalanchoe pinata (Lam.) Pers., họ Thuốc bỏng (Crassulaceae).

Mô tả: Cây cỏ, sống lâu năm, cao 40 - 60cm. Thân tròn, nhẵn, có đốm tía. Lá mọc đối, nguyên hoặc xẻ 3 thùy, ít khi 5 - 7. Phiến lá dày, mọng nước, có răng cưa tròn ở mép. Hoa mọc thõng xuống, màu đỏ hoặc vàng cam tụ tập thành xim trên một cán dài ở ngọn thân. Quả gồm 4 đại.

Bộ phận dùng: Lá

Phân bố: Mọc hoang và được trồng làm cảnh ở nhiều nơi nước ta.

Thành phần hoá học: Acid hữu cơ : citric, isocitric, malic., flavonoid và một số hợp chất phenolic khác.

Công năng: Tiêu thũng, giảm đau, sinh cơ.

Công dụng: Kháng khuẩn, tiêu viêm. Dùng chữa bỏng, vết thương, lở loét, viêm tấy, đau mắt sưng đỏ, chảy máu, dùng làm thuốc giải độc.

Cách dùng, liều dùng: Dùng trong, ngày 20 - 40g giã tươi, thêm nước và gạn uống. Dùng ngoài, lấy lá tươi giã nhỏ, đắp hoặc chế thành dạng thuốc mỡ để bôi.

Bài thuốc :

- Chữa chấn thương do té ngã, đánh đập; bỏng do lửa hay nước sôi và bỏng do nóng: dùng lá sống đời tươi giã nhuyễn đắp lên.

- Viêm họng: ăn 10 lá sống đời, chia làm 10 lần trong ngày (sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá), nên nhai ngậm và nuốt cả bã, dùng khoảng 3 ngày.

- Chữa viêm loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội đi ngoài ra máu: lấy một nắm lá tươi (50g), vò lấy nước uống hoặc sắc uống.

- Mất sữa: sáng và chiều mỗi lần ăn 8 lá sống đời; người mất ngủ dùng đơn này, thì giấc ngủ sẽ đến sớm.

- Chữa kiết lỵ và bệnh trĩ: lá sống đời, rau sam mỗi thứ 20g nhai nuốt nước hay sắc uống; hoặc mỗi ngày ăn 20 lá sống đời (sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá), ăn khoảng 5 ngày.

- Giải rượu: khi say rượu ăn 10 lá sống đời, khoảng 10 phút có tác dụng giải rượu.

- Chữa viêm xoang mũi: giã nát 2 lá sống đời lấy nước thấm vào bông, nút lỗ mũi bên viêm, ngày 4-5 lần; nếu viêm cả 2 bên, thì sáng nút 1 bên, chiều nút 1 bên. Cách này còn dùng cho người bị chảy máu cam.

- Chữa phong ngứa không rõ lý do: dùng lá sống đời, lá nghễ răm, lá ké, lá bồ hòn, nấu nước xông và tắm; dùng thêm lá ké đầu ngựa, sắc uống trong vài ngày.

Chú ý: Có thời gian người ta dùng lá cây này như là một loại thuốc chữa bách bệnh.


Theo - thuocdongduoc.vn



Đã được chỉnh sửa bởi tigonflowers - 01 Oct 2012 lúc 1:46am


Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 28 Sep 2012 lúc 12:30am
ACE xem hình lá dưới đây có giống với "Trinh nữ hoàng cung" ko?
Cây cỏ thật là phong phú.
~~~~~~~~~~~~~~

Bài thuốc ngừa thai đến từ lá A Năng

Cách đây chừng 15 năm, ngành y tế đã xôn xao bởi một chuyện động trời đó là Việt Nam có thể sản xuất được thuốc tránh thai đơn giản, hiệu quả, ít tốn kém từ lá cây rừng. Tác giả của dự án khả thi đó là ông Dương Quát, khi ấy là Chủ nhiệm Ủy ban Dân số- Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Quảng Trị.

 

Theo ông Quát thì trong những lần đi thực tế ở vùng miền núi tỉnh Quảng Trị, ông đã vô tình phát hiện được cách ngừa thai vô cũng hữu hiệu của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô ở tít sâu trên đỉnh Trường Sơn.

 

Ở nơi hoang vắng ấy, nếu không muốn có con, mỗi khi làm chuyện ấy, người dân chỉ cần “yểm” một mẩu lá cây lạ dưới chiếu là cứ… thoải mái, không bao giờ sợ có thai. Sau nhiều năm vất vả nghiên cứu, đến giờ, theo ông Quát, ông đã đi được gần hết chặng đường. Thuốc tránh thai “Madein Việt Nam” siêu rẻ sắp được chào hàng và chắc chắn sẽ là một phát minh khiến y học thế giới… giật mình.

Chủ đất người Ma Coong, Đinh Xon thần bí kể về lá thuốc lạ của dân tộc mình

 

Thực ra trước khi gặp ông Quát, trước khi nghe ông giới thiệu về “dự án cuộc đời” của mình, chúng tôi, những người thường hay quăng quật ở khắp các ngọn núi trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ, tiếp xúc với đồng bào Vân Kiều, Pa Cô, Ma Coong… nơi hoang thẳm đó cũng đã được nghe nói về loại lá cây diệu kỳ và rất đỗi bí ẩn này.

 

Những đêm tình huyền diệu và bí mật lá thuốc nhiệm màu


Nhớ chuyến “thám hiểm” rừng Trường Sơn ở địa phận Quảng Bình năm trước, chúng tôi đã “lạc” vào vùng đất thần bí của người Ma Coong ở sát biên giới nước Lào. Lần ấy, tiếp xúc với ông Đinh Xon, chủ đất của người Ma Coong ở vùng biên viễn xa xôi ấy, chúng tôi được biết một thông tin vô cùng thú vị.

 

Khác hẳn với những dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam, mỗi năm, người Ma Coong đều có một đêm dành cho tình yêu đôi lứa, ấy là vào đêm ngày 16 tháng Giêng hằng năm. Người Ma Coong gọi đêm tình đó là đêm đập trống. Đêm ấy, trai gái yêu nhau, thậm chí cả những người đã có gia đình đều có thể đến với nhau, trao cho nhau tất cả những thứ thuộc về tình yêu nam nữ.

Sau đêm tình tuyệt vời đó, có đôi có thể thành chồng thành vợ, nhưng cũng có đôi chẳng đi đến đâu bởi khi đã tận hiến, họ mới nhận ra rằng, tình cảm dành cho nhau như vậy là chưa đủ chín để thành lứa thành đôi. Như con chim quên cành, con thuyền quên bến, họ rời xa nhau mà chẳng một lời oán than, trách móc.

Tuy nhiên, theo ông Đinh Xon thì sau đêm tình ấy, nếu ai… vô ý mà để bạn tình của mình có thai thì dù có trăng gió qua đường cũng phải cắn răng mà cưới. Không những thế, kẻ gây hậu quả xấu đó còn phải “nộp phạt” cho bản nhiều rượu, nhiều thịt thì mới được bỏ qua. Đó là lệ làng từ xửa xưa không thể nào khác được.

 

Thế nhưng, đã hàng ngàn đêm đập trống trôi qua, theo chủ đất Đinh Xon, chẳng mấy khi làng được phạt vạ bởi chẳng mấy ai sau đêm “trời đất chỉ có hai người” ấy phải lĩnh “hậu quả ngoài ý muốn”. “Người Ma Coong có lá cây rừng kỳ lạ lắm, đêm tình chỉ cần ngắt một lá ấy mang theo bên mình thì không lo chuyện đó đâu!”.

Chủ đất Đinh Xon đã bật mí với chúng tôi như vậy. Loài cây ấy là gì mà có tác dụng độc đáo, lạ lùng đến vậy, mấy lần gặng hỏi ông Đinh Xon, nhưng ông cứ nguầy nguậy cái đầu. Ông bảo, lá thuốc ấy là tài sản vô giá của dân tộc ông thế nên không thể nào ông nói được. Chỉ biết nó thân mềm, có củ như hoa kèn, chỉ mọc trong rừng thẳm.

 

Khi yêu đương, chỉ cần để một mẩu lá của loài cây này trong túi áo thì dù có…nhạy đến mấy cũng chẳng thể mang bầu. Tác dụng ngừa thai của loài cây này mạnh đến nỗi có thể chấm dứt quá trình sinh trưởng, phát triển của cả… thực vật. Ông Đinh Xon bảo, lấy nhựa loài cây này bôi vào lưỡi dao, sau đó dùng dao đó chém ngang thân chuối thì nõn chuối cũng chẳng thể chồi lên.

Thuyết phục ông Đinh Xon tiết lộ thêm về loài cây quý giá này không được, chúng tôi đành cậy nhờ ông Đinh Hợp, khi đó là Chủ tịch UBND xã Thượng Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) nơi người Ma Coong ở những mong ông nể tình nhà báo từ phương xa tới mà rò rỉ thêm cho chút thông tin.

Thế nhưng, vừa nghe nguyện vọng của chúng tôi xong, ông Hợp cũng vội vã gạt đi. Ông bảo, cái gì của núi rừng thì cứ để nguyên ở núi rừng, lộ ra là mất. Chủ tịch xã Đinh Hợp lo sợ biết cây thuốc quý đó, nhiều người sẽ ồ ạt vào rừng săn lùng, tận diệt.

 

Loại lá cây kỳ bí trên cứ ám ảnh chúng tôi sau chuyến công tác ấy. Và rồi, cách đây vài hôm, nghe anh bạn ở làm báo ở Quảng Trị “mật báo” ông Dương Quát chuẩn bị khởi động lại dự án làm thuốc tránh thai từ lá cây rừng từng khiến dư luận xôn xao trước đây, chúng tôi đã ngờ ngợ.

Phải chăng thuốc tránh thai mà ông Quát đang mày mò, nghiên cứu được chế xuất chính từ loại lá cây mà chúng tôi đã được nghe ở vùng đất biên giới, nơi người Ma Coong sinh sống?

Công trình bạc tỉ và mơ ước về bài thuốc ngừa thai “Made in Việt Nam”

Nhà ông Quát nằm ngay trung tâm thành phố Đông Hà. Ông Quát đã ở tuổi xưa nay hiếm nhưng vẫn còn lanh lẹ lắm! Hỏi chuyện về dự án khiến cả thế giới giật mình mà ông đang theo đuổi, ông bảo, ông đã sắp về tới đích, cụ thể hơn là đi đến 80% chặng đường.

 

Theo ông Quát thì cách đây đúng 15 năm, khi còn đang giữ chức Chủ nhiệm UBDSKHHGĐ tỉnh Quảng Trị, ông chính thức bắt tay vào nghiên cứu bài thuốc lạ lùng này. Ý tưởng nghiên cứu, cho ra đời bài thuốc tránh thai mang thương hiệu Việt được khởi nguồn từ những chuyến đi công tác tại huyện Hướng Hóa, nơi có nhiều đồng bào Vân Kiều, Pa Cô sinh sống.

Những lần đi làm công tác dân số đó, ông rất ngạc nhiên là bởi nhiều bản làng ở nơi hoang vu, thiếu các thiết bị y tế, thiếu các biện pháp tránh thai hiện đại mà hiện tượng đẻ vỡ kế hoạch lại không xảy ra. Tìm hiểu, ông được biết, người Vân Kiều, Pa Cô hãm “cần tăng dân số” bằng một loại lá rừng bí ẩn.

Sau nhiều lần thăm dò, ông biết, loại lá diệu kỳ đó đồng bào gọi là lá a năng. Thế nhưng, cũng giống như nhiều trường hợp khác, đồng bào không cho ông thấy loài lá thần diệu đó.

Sau này, khi được UBND tỉnh Quảng Trị, Ủy ban Quốc gia về Dân số kế hoạch hóa gia đình ủng hộ việc lập hội đồng khoa học để nghiên cứu, chết suất thuốc tránh thai từ lá cây kỳ lạ trên thì ông mới được tận mắt thấy loài “thần dược” ấy.

Lá "thần" phòng tránh thai của người dân miền núi.

 

Ông Quát kể, dạo ấy, công tác dân số được quan tâm lắm nên khi ra Hà Nội, ông đã xin gặp GS. Mai Kỷ, khi đó là Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBQG về DSKHHGĐ để trình bày ý tưởng táo bạo trên. Hôm ấy, theo lịch, ông Kỷ phải giải quyết rất nhiều công việc. Bởi thế, thư ký của ông Kỷ chỉ cho phép ông tiếp xúc trong thời gian ngắn.

Thế nhưng, khi nghe ông thuyết giải, trình bày ý tưởng của mình, bộ trưởng, chủ nhiệm ủy ban đã chăm chú nghe tới quá trưa. Và, ngay sau đó, ông Mai Kỷ đã đồng ý, phê duyệt về kinh phí để ông tức tốc trở lại Quảng Trị thực hiện dự án để đời này.

 

Suốt mấy năm lặn lội ở khắp các bản làng, rồi vùi mình ở các trung tâm nghiên cứu, thí nghiệm ở cả trung ương lẫn địa phương, ông Quát và các cộng sự nhiệt thành của mình là những thầy thuốc người dân tộc nổi tiếng ở Hướng Hóa đã thu được những kết quả đáng mừng.

 

Khi có được những lá thuốc thần bí của một số thầy lang có tiếng ở Khe Sanh (Hướng Hóa), lần đầu tiên, ông làm thí nghiệm trên thỏ. Ông kể, năm ấy, ông sang một viện nghiên cứu ở Trung Quốc tìm mua 40 cá thể thỏ rồi đưa về một viện chuyên nghiên cứu về nông nghiệp của trung ương để thử thuốc.

 

Kết quả là dù đến chu kỳ sinh nở nhưng hấp thụ thứ lá cây đặc biệt này những cá thể thỏ cái đã không thể mang thai. Lần thứ hai, để tìm phản ứng phụ của thuốc, ông đã thử trên những cá thể chuột bạch tại Trường Đại học Y khoa Huế. Kết quả cũng vô cùng mỹ mãn, lá thuốc trên không gây bất cứ một phản ứng phụ nào.

Theo ông Quát, sở dĩ đến giờ, công trình của ông vẫn chưa về đến đích là bởi thiếu kinh phí, thêm nữa, chưa có bất cứ kết luận khoa học về những biến chứng lâu dài khi sử dụng bài thuốc này. Còn một khó khăn nữa, theo ông Quát, đó là sự bí hiểm đến khó lý giải của lá a năng.

 

Như đã nói, dù thân thiết tới đâu thì đồng bào dân tộc vẫn giấu bí quyết của mình. Bởi thế, dù có được giống cây quý đó, dù trồng xanh um như những cây cảnh khác trong nhà, nhưng nếu không phải do người dân tộc đặt thuốc thì a năng chỉ là thứ lá vô tri. Cố gặng hỏi xem họ còn bí quyết gì nữa khi sử dụng loại lá cây này, nhưng lần nào ông cũng chỉ nhận được câu trả lời chung chung: A năng là lá thuốc của Giàng. Đem về xuôi Giàng không đồng ý nên vô tác dụng…

 

Trao đổi với chúng tôi, ông Quát tiết lộ, tuy công trình của ông vẫn đang dang dở nhưng đã có rất nhiều nhà khoa học có tiếng ở cả trong vài ngoài nước đã tìm tới, hỏi mua lại toàn bộ kết quả nghiên cứu, tìm hiểu đó với gia vài tỉ đồng. Tuy nhiên, ông từ chối bởi ông muốn tự mình hoàn thiện công trình khoa học sẽ khiến y khoa thế giới giật mình này.

Khi đã yên tâm về sự an toàn của bài thuốc, tại huyện Triệu Phong (Quảng Trị), cũng bằng lá cây trên, ông Quát cũng đã “thử” trên 19 cặp vợ chồng được lựa chọn ngẫu nhiên. Kết quả 18 cặp trong số đó đã ngừa thai được đúng theo ý muốn của mình.


Theo - vtc.vn




Đã được chỉnh sửa bởi tigonflowers - 01 Oct 2012 lúc 1:45am


Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
tigonflowers Xem từ trên xuống
V.I.P Member
V.I.P Member
Ảnh đại diện

Gia nhập: 17 Feb 2011
Địa chỉ: Saitamaken JP
Status: Offline
Points: 4
Tùy chọn đăng bài Tùy chọn đăng bài   Thanks (0) Thanks(0)   Trích dẫn tigonflowers Trích dẫn  Trả lời bài Trả lời Direct Link To This Post Đã đăng: 01 Oct 2012 lúc 1:46am

Ớt chữa phù thũng hiệu quả

Khi bị đau nhức nửa đầu, lấy dầu ớt hoặc quả ớt thật cay bẻ đôi chấm vào mũi bên nửa đầu bị đau, cơn đau nhức hết rất nhanh. Sau đó, để làm hết cay, lấy tóc chấm vào chỗ bị cay.

 

Quả ớt vị cay, tính nóng, có tác dụng tiêu đờm, ôn trung, tán hàn, giải biểu, kiện vị, tiêu thực, gây sung huyết, kích thích chung, thông kinh lạc, giảm đau, sát trùng. Rễ ớt có tác dụng làm hoạt huyết, tán thũng. Lá ớt có vị đắng, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu.

 

Quả ớt trị tỳ vị hư lạnh, tiêu chảy, nôn mửa, dạ dày ruột đầy trướng, mất trương lực, tích trệ, ăn không tiêu, đau nhức nửa đầu, đau lưng, đau khớp, thống phong, đau dây thần kinh, viêm thanh quản, viêm họng. Người đau dạ dày, tạng nhiệt, máu nóng không dùng ớt.

 

Các bài thuốc cụ thể:


Chữa đau lưng, thấp khớp, đau dây thần kinh: Quả ớt giã nát, ngâm rượu với tỷ lệ 1/2 (một phần ớt tươi, 2 phần rượu) dùng xoa bóp. Có thể lấy hạt ớt phơi khô, tán bột viên làm cao dán (dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác)...

Chữa trúng phong, răng cắn chặt: Lá ớt tươi (loại ớt chỉ thiên) 30-50 g, giã nát, thêm nước và ít muối, đổ nước vào miệng còn bã đắp vào răng, người bệnh sẽ tỉnh lại.

 

Chữa sốt rét: Lá ớt tươi 30 g giã nát, hòa với nước đun sôi để nguội, chắt nước cốt uống trước khi lên cơn sốt 2 giờ. Ngày 1 lần, dùng trong 5-7 ngày liền.

 

Chữa phù thũng: Lá ớt tươi 30-40 g, sao vàng, sắc uống trong ngày.

Chữa rắn rết cắn, côn trùng đốt: Ớt tươi 15 quả, lá đu đủ 3 lá, rễ ớt chỉ thiên 80 g, tất cả giã nát, thêm nước, gạn nước uống, bã dùng đắp lên vết cắn. Nếu là rết và côn trùng đốt dùng lượng ít hơn. Có thể dùng riêng lá ớt tươi lượng vừa đủ giã nát, đắp vào vết cắn. Sau 15-30 phút nếu còn đau nhức làm thêm lần nữa.

 

Chữa eczema: Lá ớt tươi 30 g, me chua 20 g, hai thứ giã nát đắp, dùng 5-10 ngày là khỏi. Chữa mụn nhọt, đinh độc, vết thương: Lá ớt, lá na, lá bồ công anh, lá tử vi, lá táo mỗi thứ 10-20 g, giã nát với một ít muối, đắp. Hoặc: Lá ớt, cành xương rồng bà có gai, lá mồng tơi mỗi thứ 5-10 g, giã nát nhuyễn, đắp.

 

Chữa đau bụng kinh niên: Rễ ớt, rễ chanh, rễ xuyên tiêu mỗi thứ 10 g sao vàng, sắc uống trong ngày, dùng nhiều ngày.

 

Theo - Sức Khỏe & Đời Sống



Mua + Bán gây quỹ từ thiện

"Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim."



Quay về đầu
 Trả lời bài  Trả lời bài  Trang  <1234 14>
  Share Topic   

Di chuyển nhanh Những sự cho phép của diễn đàn Xem từ trên xuống

Forum Software by Web Wiz Forums® version 11.01
Copyright ©2001-2014 Web Wiz Ltd.

Trang này được hoàn thành trong 0.836 Giây.